
Theo kế hoạch mục tiêu tổng quát: Nâng cao năng lực quản lý, giám sát, xét nghiệm, cảnh báo sớm, điều tra dịch tễ, thực hành an toàn sinh học, tiêm phòng, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh (ATDB); từng bước xây dựng hệ thống phòng, chống dịch bệnh động vật hiện đại, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, góp phần phát triển chăn nuôi bền vững theo đúng định hướng của Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1520/QĐ-TTg ngày 06/10/2020. Chủ động giám sát, phát hiện sớm, cảnh báo và ứng phó kịp thời với các ổ dịch bệnh động vật gồm: Cúm gia cầm (CGC), Lở mồm long móng (LMLM), Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP), Viêm da nổi cục (VDNC), Dại và các bệnh trên thủy sản; giảm thiểu tác động tiêu cực của bệnh động vật đối với sản xuất chăn nuôi, sức khỏe cộng đồng, an toàn thực phẩm, môi trường và các hoạt động thương mại.
Mục tiêu cụ thể
a) Đối với phòng, chống bệnh Cúm gia cầm: Giảm tối thiểu 30% số ổ dịch Cúm gia cầm so với trung bình của cả giai đoạn 2019 – 2025 tại các khu phố trên địa bàn phường. Chủ động giám sát, phát hiện sớm các chủng, biến chủng vi rút Cúm gia cầm mới xâm nhập và lưu hành, xác định được tỷ lệ lưu hành và sự phân bố của chúng theo không gian, thời gian để báo cáo cấp trên xử lý. Chủ động kiểm soát nguy cơ phát sinh và lây lan bệnh Cúm gia cầm thông qua giám sát dịch bệnh và triển khai tiêm phòng bao vây tại ổ dịch, khu vực nguy cơ cao phù hợp với tình hình dịch tễ và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn thú y cấp trên. Từng bước hướng dẫn người chăn nuôi gia cầm trên địa bàn áp dụng các biện pháp an toàn sinh học, phấn đấu xây dựng các cơ sở chăn nuôi đạt tiêu chuẩn an toàn dịch bệnh.
b) Đối với phòng, chống bệnh Lở mồm long móng: Giảm tối thiểu 30% số ổ dịch và số gia súc buộc phải tiêu hủy so với trung bình giai đoạn 2021 - 2025 trên địa bàn. Chủ động giám sát lưu hành vi rút, phát hiện sớm nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh tại địa phương. Phấn đấu tỷ lệ tiêm phòng đạt trên 70% tổng đàn gia súc thuộc diện tiêm phòng bắt buộc hàng năm tại các khu phố. Khuyến khích, hướng dẫn các hộ chăn nuôi quy mô lớn xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh Lở mồm long móng.
c) Đối với phòng, chống bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Giảm tối thiểu 30% số ổ dịch Dịch tả lợn Châu Phi và số gia súc buộc phải tiêu hủy so với trung bình của cả giai đoạn 2021 - 2025. Đẩy mạnh áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh tại các cơ sở chăn nuôi lợn (bao gồm cả chăn nuôi nông hộ và trang trại). Tiếp tục cập nhật hướng dẫn, triển khai sử dụng vắc xin Dịch tả lợn Châu Phi phù hợp với điều kiện thực tế chăn nuôi tại địa phương và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn. Ưu tiên triển khai các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học tại các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn, chăn nuôi tập trung trên địa bàn.
d) Đối với phòng, chống bệnh Dại: Đối với phòng, chống bệnh Dại ở động vật: Quản lý được 90% số hộ nuôi chó, mèo và số chó, mèo. Tiêm vắc xin Dại cho 80% tổng đàn chó, mèo nuôi. Đối với phòng, chống bệnh Dại ở người: 100% các khu phố trên địa bàn phường thực hiện truyền thông nguy cơ và nâng cao nhận thức về bệnh Dại ở cộng đồng, trường học. 100% số người tiêm vắc xin phòng bệnh Dại do động vật cắn được báo cáo qua hệ thống báo cáo quốc gia. 90% số người bị phơi nhiễm với bệnh Dại được điều trị dự phòng sau phơi nhiễm. Đến năm 2030, phấn đấu không còn người tử vong vì bệnh Dại.
đ) Đối với phòng, chống bệnh Viêm da nổi cục: Tiêm phòng vắc xin Viêm da nổi cục cho trên 80% tổng đàn trâu, bò, bê, nghé (gọi chung là trâu, bò) tại thời điểm tiêm phòng. Chủ động giám sát, phát hiện sớm và kiểm soát tốt dịch bệnh nhằm hàng năm giảm 20% số gia súc mắc bệnh Viêm da nổi cục so với năm liền kề trước đó. Phòng bệnh chủ động, có hiệu quả bằng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học; vệ sinh, khử trùng, tiêu độc và tiêu diệt các véc tơ truyền bệnh; xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh. Kiểm dịch, kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, ngăn chặn không để mầm bệnh VDNC xâm nhiễm vào địa bàn.
e) Đối với phòng, chống các bệnh trên thủy sản: Chủ động phòng bệnh, chủ động giám sát phát hiện và khống chế kịp thời một số bệnh nguy hiểm trên đối tượng thủy sản nuôi khác, không để mầm bệnh lây lan rộng. Ngăn chặn có hiệu quả một số tác nhân gây bệnh nguy hiểm, nguy cơ xâm nhiễm vào địa bàn các bệnh mới nổi.
(Có gửi kèm file: Kế hoạch số 229/ KH-UBND, ngày 13/8/2026 của UBND phường Chơn Thành)
Tác giả: Đỗ Trình-Trung tâm DVTH phường
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập