
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp. Đối với ngành Nông nghiệp và Môi trường, việc ứng dụng công nghệ số không chỉ góp phần đổi mới phương thức sản xuất, quản lý và tiêu thụ nông sản mà còn hỗ trợ sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.
1. Các ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp
Trong những năm gần đây, việc ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp tại Việt Nam đã trở thành xu hướng tất yếu, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giảm thiểu rủi ro trong sản xuất. Sự kết hợp giữa công nghệ và nông nghiệp không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình canh tác, mà còn mở ra cơ hội phát triển bền vững cho ngành Nông nghiệp Việt Nam. Đặc biệt, tại điểm n, mục 3, phần II - Nhiệm vụ cụ thể trong Kế hoạch đính kèm Quyết định số 2401/QĐ-BNNMT ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường có nêu rõ: “Tham gia hoàn thiện hành lang pháp lý, tổ chức nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (Machine Learning), dữ liệu lớn (Big Data), internet vạn vật (IoT), chuỗi khối (Blockchain),… trong các lĩnh vực của ngành Nông nghiệp và môi trường”
Trước tiên, việc áp dụng các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), Trí tuệ nhân tạo (AI và dữ liệu lớn (Big Data) đã mang lại những thay đổi đáng kể trong quy trình sản xuất. Tại nhiều nhà vườn, trang trại đã lắp đặt các thiết bị cảm biến thông minh để đo lường chính xác các chỉ số như độ ẩm đất, nhiệt độ, ánh sáng, và mức độ dinh dưỡng. Nhờ đó, người nông dân có thể theo dõi và điều chỉnh kịp thời các yếu tố môi trường, giúp cây trồng phát triển tối ưu.
Bên cạnh đó, việc sử dụng máy bay không người lái (drone) trong việc phun thuốc bảo vệ thực vật và giám sát đồng ruộng đã được áp dụng ở các cánh đồng lúa và các vườn cây ăn trái, giúp giảm thiểu công lao động, hạn chế tiếp xúc trực tiếp với hóa chất, đồng thời đảm bảo thuốc được phân bố đồng đều. Những cải tiến này không chỉ giảm chi phí sản xuất mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.
Công nghệ Blockchain cũng đang được ứng dụng trong việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông nghiệp. Mỗi sản phẩm khi được thu hoạch sẽ được gắn một mã QR chứa toàn bộ thông tin từ khâu sản xuất đến phân phối. Điều này không chỉ giúp người tiêu dùng dễ dàng kiểm tra nguồn gốc, chất lượng sản phẩm mà còn tạo lòng tin đối với thị trường trong và ngoài nước.
Ngoài ra, các nền tảng số và ứng dụng di động đã hỗ trợ nông dân tiếp cận thông tin về thị trường, giá cả, thời tiết và kỹ thuật canh tác một cách nhanh chóng. Một số ứng dụng còn kết nối trực tiếp nông dân với người mua, giúp giảm sự phụ thuộc vào các khâu trung gian và nâng cao thu nhập cho người sản xuất.
Ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn giúp bảo vệ môi trường và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên. Tuy nhiên, để công nghệ số phát huy tối đa hiệu quả, các vấn đề về chi phí đầu tư, hạ tầng công nghệ và đào tạo nông dân cần được giải quyết. Chính phủ, các tổ chức quốc tế và các doanh nghiệp cần hợp tác để tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc ứng dụng các công nghệ mới trong ngành nông nghiệp.
2. Thách thức khi ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp
Chuyển đổi số trong nông nghiệp đã và đang trở thành xu thế tất yếu, góp phần cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm, cũng như gia tăng giá trị chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, quá trình này ở Việt Nam còn gặp không ít thách thức, đòi hỏi sự nỗ lực và hợp tác từ nhiều phía để đạt được hiệu quả bền vững.
Một trong những thách thức lớn nhất là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún. Điều này gây khó khăn trong việc áp dụng đồng bộ các giải pháp công nghệ và xây dựng quy trình sản xuất quy mô lớn. Việc đầu tư vào hệ thống tự động hóa hay ứng dụng Internet vạn vật (IoT) đòi hỏi chi phí cao, trong khi lợi nhuận từ mô hình nhỏ lẻ không đủ để tái đầu tư.
Tiếp theo là thiếu hụt nguồn nhân lực có chuyên môn về công nghệ số cũng là một thách thức đáng kể. Nguồn nhân lực trong lĩnh vực nông nghiệp đang có xu hướng giảm. Năm 2020 cơ cấu lao động có việc làm trong ngành nông, lâm, thủy sản đạt 33,1% tương đương khoảng 17,7 triệu lao động, đến năm 2022 giảm xuống còn 26,9% tương đương khoảng 13,9 triệu lao động năm 2022 (giảm 1.9 triệu lao động/năm). Năm 2024 số lao động trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ còn 26,4% tương đương với 13,7 triệu lao động. Cơ cấu lao động có việc làm trong năm 2025 tiếp tục giảm còn 25,7%, tương đương với 13,5 triệu người. Về trình độ chuyên môn, kỹ năng của lao động nông nghiệp đã được cải thiện, song vẫn còn tỷ lệ thấp so với các ngành khác. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của ngành Nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2020 là 4,6% và 4,7% năm 2024 ( tăng 0,1%). Trong khi các ngành khác như công nghiệp chế biến chế tạo tỷ lệ lao động đã qua đào tạo năm 2020 là 17,9% đến năm 2024 đã tăng lên 23,1% (tăng 5,2% ngành nông nghiệp). (nguồn Niên giám thống kê năm 2025)
Số liệu trên cho thấy, năm 2024, lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 4,7%, trong khi lao động ngành nông nghiệp chiếm tới 26,4%. Bên cạnh đó, lao động ngành Nông nghiệp hiện thiếu kỹ năng về quản lý, quản trị, kết nối trong sản xuất và tiêu thụ, thiếu tác phong công nghiệp. Trong khi quy mô đào tạo các ngành nghề trong lĩnh vực nông nghiệp ở các cơ sở đào tạo giảm mạnh. Phần lớn lao động trong ngành Nông nghiệp không có trình độ cao dẫn đến khó tiếp cận và làm chủ công nghệ tiên tiến trong nông nghiệp. Bên cạnh đó, việc đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực này còn nặng về lý thuyết, không có điều kiện thực hành, gây ra những khó khăn trong việc hiểu biết về ứng dụng công nghệ thông tin, biến đổi khí hậu, chuỗi giá trị liên kết sản xuất.
Vấn đề tài chính cũng là rào cản lớn khi chi phí đầu tư cho các mô hình nông nghiệp thông minh không hề nhỏ. Dù đã có các chương trình hỗ trợ vay vốn từ ngân hàng và quỹ phát triển nông nghiệp, nhưng thủ tục phức tạp và điều kiện khắt khe khiến việc tiếp cận nguồn vốn này không dễ dàng.
Ngoài ra, nhận thức của người dân về chuyển đổi số còn hạn chế. Nhiều nông dân vẫn e ngại khi áp dụng công nghệ vì lo lắng về tính hiệu quả, cũng như chi phí đầu tư ban đầu. Bên cạnh đó, một số hợp tác xã và doanh nghiệp chưa thực sự thấy rõ lợi ích lâu dài từ việc chuyển đổi số, dẫn đến tình trạng ứng dụng công nghệ theo phong trào, thiếu chiến lược bài bản.
3. Nhiệm vụ cụ thể
Mặc dù đối mặt với nhiều thách thức, tiềm năng chuyển đổi số trong nông nghiệp Việt Nam vẫn rất lớn. Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ như Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) hay các dự án khuyến khích ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp. Đồng thời, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp công nghệ và các đơn vị sản xuất nông nghiệp ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ, hứa hẹn sẽ tạo ra những bước tiến vượt bậc trong tương lai.
Chuyển đổi số trong nông nghiệp là xu hướng tất yếu, nhưng con đường này không hề dễ dàng. Để vượt qua những thách thức này, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tạo hành lang pháp lý cho các bộ ngành, địa phương cụ thể hóa và áp dụng thực hiện. Ngày 27/6/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 2401/QĐ-BNNMT với 07 nhiệm vụ cụ thể là:
- Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong toàn ngành nông nghiệp và môi trường về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Hoàn thiện thể chế, đưa thể chế thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
- Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các cơ quan, đơn vị; số hóa, kết nối, khai thác dữ liệu; phát triển dịch vụ số và nâng cao hiệu quả quản trị ngành.
- Thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp về nông nghiệp và môi trường.
- Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chuyển đổi số trong nông nghiệp Việt Nam là xu thế tất yếu để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Mặc dù gặp phải không ít thách thức như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu hạ tầng và nguồn nhân lực, nhưng với những giải pháp đồng bộ, sự hợp tác giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân, quá trình chuyển đổi sẽ mở ra cơ hội lớn, giúp xây dựng nền nông nghiệp hiện đại và bền vững, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế.
Chuyển đổi số trong nông nghiệp là quá trình lâu dài, cần được triển khai đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, từng ngành hàng và từng đối tượng sản xuất. Việc ứng dụng các công nghệ như IoT, AI, Machine Learning, Big Data, Blockchain, GIS và các nền tảng số cần hướng tới mục tiêu thiết thực, lấy hiệu quả sản xuất, lợi ích của người nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp làm trọng tâm.
Để chuyển đổi số đạt hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở nghiên cứu và người dân; đồng thời chú trọng hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức, kỹ năng số. Với sự quyết tâm và triển khai đồng bộ 07 nhiệm vụ theo Quyết định số 2401/QĐ-BNNMT, chuyển đổi số sẽ góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, nâng cao giá trị nông sản, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hướng tới phát triển nông nghiệp xanh, bền vững.
Tác giả: Vũ Thắm (Khai thác Nguồn:https://dangcongsan.org.vn )
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập